TRƯỜNG HỢP VIỆN KIỂM SÁT RÚT QUYẾT ĐỊNH TRUY TỐ.
Điều
tra- truy tố, xét xử là hai giai đoạn kế tiếp nhau của trình tự tố tụng hình
sự. Trong đó, giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau. Giai đoạn sau tiếp
tục và kiểm tra công việc của giai đoạn trước. Nói cách khác, không có việc
Viện Kiểm sát truy tố bị can thì không có việc Toà án xét xử bị cáo. Bên cạnh
việc quy định trách nhiệm truy tố của Viện kiểm sát, Bộ luật TTHS còn cho phép
cơ quan này rút quyết định truy tố nếu thấy có căn cứ (Điều 181, 195 BLTTHS).
Theo các quy định này, Viện kiểm sát có quyền rút một phần hoặc toàn bộ quýết
định tuy tố, thời điểm rút có thể là trước hoặc tại phiên toà sơ thẩm. Trong
thực tiễn vẫn còn có những nhận thức khác nhau xung quanh cách giải quyết vụ án
khi Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên toà và nhận thức
thế nào là rút một phần hoặc rút toàn bộ quyết định truy tố.
1. Khái niệm truy tố và rút truy tố.
Quyền
công tố là quyền nhân danh nhà nước thông qua thủ tục tố tục tố tụng hình sự
thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội. Quyền công tố được
thể hiện ra bên ngoài bằng hoạt động cụ thể của cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
người có thẩm quyền trong cơ quan đó gọi là thực hành hành quyền công tố. Nội
dung của quyền công tố được hiểu theo nghĩa hẹp bao gồm: Kiểm sát tính hợp pháp
của hoạt động tư pháp hình sự, truy tố bị can ra trước tòa án có thẩm quyền để
xét xử và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà. Ở nước ta việc thực hiện
quyền công tố với những nội dung trên được giao cho cơ quan Viện Kiểm sát thực
hiện. Truy tố là một trong những chức năng của quyền công tố theo đó,
Viện Kiểm sát thông qua bản cáo trạng, quyết định đưa một người đã bị
điều tra ra xét xử trước toà án có thẩm quyền về một, một số tội phạm nào đó.
Để thực hiện chức năng này, trong quá trình truy tố, Viện kiểm sát phải thực
hiện các hành vi tố tụng: áp dụng huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn làm bản cáo trạng,
trả hồ sơ để điều tra bổ sung, và thực hiện một số hoạt động điều tra.
Có
ý kiến cho rằng việc truy tố bị can bắt đầu từ thời điểm cơ quan kiểm sát nhận
hồ sơ vụ án, trong đó bao gồm kết luận điều tra và đề nghị truy tố của cơ quan
điều tra và kết thúc bằng các hành vi tố tụng sau: đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ
vụ án truy tố bị can bằng bản cáo trạng.1. Tuy nhiên theo chúng tôi quyền công
tố như trên đã nói gồm ba nội dung rành mạch nhưng không thể có ba giai đoạn
rành mạch tương ứng với 3 nội dung đó. Bởi lẽ, trong giai đoạn xét xử vẫn cần
có hoạt động kiểm sát hoạt động xét xử, trong giai đoạn xét xử nội dung truy tố
vẫn được duy trì. Toà án xét xử nhưng tội danh mà viện kiểm sát truy tố, việc
buộc tội của kiểm sát viên là nhằm bảo vệ cáo trạng và quyết định truy tố của
Viện kiểm sát. Trong giai đoạn xét xử, viện kiểm sát vẫn có thể thực hiện việc
truy tố bị cáo về tội nhẹ hơn so với tội đã bị truy tố trước đó trong bản cáo
trạng, rút toàn bộ hoặc một phần quyết định truy tố. Truy tố không chỉ là cơ sở
cho việc xét xử của toà án mà còn là cơ sở cho chức năng buộc tội của Viện Kiểm
sát tại phiên toà. Nếu cơ sở của việc xét xử là yêu cầu của Viện kiểm sát thể
hiện bằng quyết định truy tố thì rút toàn bộ truy tố là việc Viện kiểm
sát không yêu cầu toà án xét xử và không thực hiện việc buộc tội tại phiên toà
một người về bất kỳ một tội phạm nào đã nêu trong bản cáo trạng.
Rút
một phần truy tố là việc Viện Kiểm sát vẫn duy trì truy tố và buộc
tội nhưng yêu cầu toà án không xét xử một người về một, một0
số tội nào đó hoặc không áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đã
nêu trong bản cáo trạng. Như vậy, điểm khác nhau giữa rút toàn bộ truy tố và
rút một phần truy tố là việc đề nghị xét xử và buộc tội một người có được Viện
Kiểm sát duy trì nữa hay không?
2. Về trường
hợp Viện Kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên toà.
Điều
181 BLTTHS quy định: “Nếu xét thấy có một trong những căn cứ quy định tại
Điều 107 Bộ luật này hoặc có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị
cáo…thì Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên toà và đề nghị
Toà án đình chỉ vụ án”. Mặc dù Điều luật không chỉ rõ Viện kiểm sát rút
quyết định truy tố ở đây là rút một phần hay rút toàn bộ quyết định truy tố
nhưng cần phải hiểu đây là trường hợp Viện Kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy
tố. Bởi vì , nếu VKS rút một phần quyết định truy tố thì hoạt động truy tố vẫn
tồn tại và đương nhiên còn việc truy tố thì toà án vẫn còn phải xét xử. Mặt
khác, tuy Điều 181 không quy định rõ nhưng Điều 180 BLTTHS đã chỉ rõ: “Thẩm
phán ra quyết định đình chỉ vụ án khi viện Kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy
tố trước khi mở phiên toà” .
Theo
quy dịnh tại Điều 176 thì đối với vụ án được đưa ra xét xử, giai đoạn trước khi
mở phiên toà được chia làm hai giai đoạn nhỏ: giai đoạn từ khi nhận hồ sơ đến
khi toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và giai đoạn từ khi có quyết định
đưa vụ án ra xét xử đến khi phiên toà được mở.Trong giai đoạn từ khi nhận hồ sơ
đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thẩm quyền ra quyết định đình chỉ[2]
vụ án khi VKS rút toàn bộ quyết định truy tố thuộc thẩm phán chủ toạ phiên toà.
Giai đoạn sau, thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án có những cách hiểu khác
nhau. Có quan điểm cho rằng: Nếu VKS rút quyết định truy tố thì Thẩm phán chủ
toạ phiên toà ra quyết định đình chỉ vụ án. Căn cứ vào Điều 180BLTTHS cho phép
thẩm phán chủ toạ phiên toà đình chỉ vụ án khi “Viện kiểm sát rút toàn bộ
quyết định truy tố trước khi mở phiên toà”. Trước khi mở phiên toà như trên
dã nói được tính từ khi toà án nhận hồ s vụ án đến khi phiên toà được mở. Cách
làm này là vi phạm tố tụng bởi vì khoản Điều 176 quy định: “Trong thời hạn
30 ngày… kể từ ngày nhận hồ sơ vu án Thẩm phán chủ toạ phiên toà phải ra một
trong các quyết định sau đây: a)…. b)… c). Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án vụ
án Như vậy, thẩm phán chủ toạ phiên toà chỉ được ra các quyết dịnh trong thời
hạn 30, 45, 65 ngày kể tù khi nhận hồ sơ vụ án tuỳ từng loại tội. Trong khoảng
thời gian còn lại đến khi phiên toà được mở thẩm quyền ra mọi quyết định thuộc
hội đồng xét xử” . Như vậy mới đảm bảo nguyên tắc khi xét xử có hội
thẩm nhân dân tham gia và đảm bảo được hiệu lực của quyết định đưa vụ án ra xét
xử.
Về
thủ tục ra quyết định:
Trong
giai đoạn từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi phiên toà được mở Bộ
luật TTHS không quy định thủ tục để hội đồng xét xử ra các quyết định nói chung
và quyết định đình chỉ vụ án khi viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố
nói riêng. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 199BLTTHS thì quyết định
đình chỉ vụ án của Hội đồng xét xử “phải được thảo luận và thông qua tại phòng
nghị án”. Vấn đề đặt ra ở đây là trong giai đoạn này nếu Viện kiểm sát rút toàn
bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử có phải mở phiên toà để ra quyết định
đình chỉ vụ án hay không? Và phiên toà mở để ra quyết định đình chỉ vụ án có
khác gì với phiên toà bình thường không? Ví dụ có phải giải thích quyền, nghĩa
vụ cho bị cáo, có hoãn phiên toà khi có căn cứ hay không? Vấn đề này theo chúng
tôi cần có hướng dẫn cụ thể của cơ quan có thẩm quyền sao cho vừa tiết kiệm
thời gian vừa đảm bảo thủ tục tố tụng.
3.
Trường hợp Viện kiểm sát rút quyết định truy tố tại phiên toà.
Tại
phiên toà, sau phần xét hỏi, Viện kiểm sát có thể rút toàn bộ hoặc một phần
quyết định truy tố (điều 195BLTTHS). Ở đây chúng tôi không bàn đến hậu quả của
việc rút quyết định truy tố mà xin được đưa ra quan điểm tranh luận thế nào là
rút một phần và rút toàn bộ quyết định truy tố thông qua vụ án cụ thể sau đây:
A và B cùng bị truy tố trong một vụ án giết người có đồng phạm. Tại phiên toà,
sau phần xét hỏi, Viện kiểm sát rút quyết định truy tố đối vớ B về tội giết
người với căn cứ không đủ chứng cứ kết luận B đồng phạm với A trong vụ án giết
người này và giữ nguyên quyết định truy tố đối với A. Xung quanh vụ án này có
hai quan điểm khác nhau.
Quan
điểm thứ nhất cho rằng đây là trường hợp VKS rút một phần quyết định truy tố.
Do đó sau khi xét hỏi và tranh luận nếu they đủ chứng cứ cho thấy B đồng phạm
với A về tội giết người thì Toà án có quyền kết tội B. Quan điểm này dựa trên
kết luận của tài liệu tập huấn Bộ luật TTHS 2003 của Toà án nhân dân tối cao:
“Lưu ý: Viện kiểm sát rút quyết định truy tố tức là rút toàn bộ quyết định truy
tố (cáo trạng)…”.
Quan
điểm thứ hai cho rằng: Đây là trường hợp Viên kiểm sát rút tòan bộ quyết định
truy tố về tội giết người đối với B. Do đó nếu có đủ chứng cứ chứng minh B đồng
phạm đối với A thì Toà án cũng không được ra bản án kết tội B mà giải quyết
theo điều 222 BLTTHS. Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai bởi các lý do sau
đây:
-
Thứ nhất: Không nên đồng nhất giữa bản cáo trạng và quyết định truy tố. Bản cáo
trạng là là văn bản áp dụng pháp luật là một trong những hình thức pháp lý của
hoạt động thực hành quyền công tố. Trong một bản cáo trạng có thể chứa một hoặc
nhiều quyết định truy tố một hoặc nhiều bị can. Ví dụ: Bản cáo trạng số 01 của
Viện kiểm sát huyện X quyết định truy tố bị can X, quyết định truy tố bị can
Y…Với cách lập luận này thì rút toàn bộ cáo trạng tức là rút toàn bộ quyết định
truy tố. Còn rút một phần cáo trạng có thể là rút toàn bộ quyết định truy tố có
thể là rút một phần quyết định truy tố. Chính vì đồng nhất giữa bản cáo trạng
với quyết định truy tố dẫn đến việc cho rằng trong vụ án trên viện kiểm sát rút
quyết định truy tố bị cáo B là rút một phần cáo trạng và cũng là rút một phần
quyết định truy tố. Trường hợp này cần nhận thức: Viện kiểm sát đã rút toàn bộ
quyết định truy tố đối với B và rút một phần cáo trạng. Việc đồng nhất
giữa quyết định truy tố và cáo trạng có lẽ còn xuất phát từ việc quy định không
giống nhau giữa các điều 195 , 217 với khoản 1 điều 221 BLTTHS. Cụ thể: điều 195,
217 dùng cụm từ “ rút một phần quyết định truy tố” còn khoản điều 221 lại dùng
cụm từ “một phần nội dung cáo trạng”. Giả sử, nếu cũng vụ án trên tại giai đoạn
điều tra, B bỏ trốn. Cơ quan điều tra tách vụ án đối với B để giải quyết sau.
Viện kiểm sát truy tố A bằng bản cáo trạng số 01 toà án[3] đã xét xử và kết tội
A. Sau đó bắt được B. Viện kiểm sát truy tố B bằng bản cáo trạng số 02. Trước
khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà, Viện kiểm sát rút quyêt định truy tố B.
Đến đây, xuất hiện sự bất hợp lý là chỉ vì bị truy tố trong một bản cáo trạng
với A mà B (ở trường hợp bị xét xử cùng A ) vẫn bị kết tội và chỉ do bỏ trốn bị
truy tố riêng bằng bản cáo trạng khác mà khi rút truy tố B được đình chỉ vụ án.
Như vậy, quan điểm đồng nhất cáo trạng và quyết định truy tố và coi đây là
trường hợp VKS rút một phần quyết định truy tố đối với B và vẫn xét xử
kết tội bị cáo B rõ ràng khó được chấp nhận về phương diện thực tiễn và
lý luận.
Thứ
hai: Truy tố là một trong những chức năng của quyền công tố. Theo PGS. TS Trần
Văn Độ thì: “quyền công tố mang tính cụ thể tức là chỉ xuất hiện trong
trường hợp tội phạm cụ thể đã được thực hiện và đối với người phạm tội cụ thể.
Không tồn tại quyền công tố chung chung”(3). Từ quan điểm khoa học này liên
hệ với vụ án trên cho thấy: Mặc dù A và B cùng bị truy tố về tội giết
người trong vụ án đồng phạm song vị trí, vai trò, , mức độ tham gia trong
vụ án, tính chất của hành vi, nhân thân, khả năng giáo dục cải tạo… của mỗi bị
cáo khác nhau. Do đó, không thể tồn tại một quyết định truy tố cho chung cho cả
hai bị cáo mà chỉ có quyết định truy tố bị cáo A, quyết định truy tố bị cáo B.
Hai quyết định truy tố này được thể hiện trong một bản cáo trạng. Vì vậy, Viện
kiểm sát rút quyết định truy tố bị cáo B tại phiên toà phải được coi là trường
hợp rút toàn bộ quyết định truy tố đối với B và rút một phần bản cáo trạng. Khi
Viện kiểm sát đã rút toàn bộ quyết định truy tố đối với B có nghĩa là không tồn
tại việc buộc tội trước toà đối với B nữa. Không truy tố, không duy trì việc
buộc tội trước toà thì toà án không thể kết tội. Nếu toà án vẫn kết tội B sẽ vi
phạm nguyên tắc : Thực hành quyền công tố tụng tố tụng hình sự- Một nguyên tắc
mới được bổ sung trong Bộ luật TTHS 2003.
Cuối
cùng xin bàn về điều 195 BLTTHS khi điều này cho phép Hội đồng xét xử vẫn xét
xử toàn bộ vụ án ngay cả khi Viện kiểm sát đã rút toàn bộ truy tố. Bản chất của
xét xử ngay cả xét xử vụ án hình sự đi chăng nữa đều là việc toà án như một
trọng tài đứng ra phân xử và phán quyết khi tồn tại sự cáo buộc của bên này với
bên kia. Chức năng xét xử của toà án chỉ có hai mục đích là nhân danh
công lý và nhà nước kết luận một người phạm tội hay không phạm tội. Tuyên bố
một người phạm tội nào đó phải dựa trên sự buộc tội và tất nhiên cần xét xử.
Ngược lại không có sự buộc tội thì sự tuyên bố của toà án sẽ không có ý
nghĩa bởi không ai buộc tội bị cáo thì đương nhiên họ không có tội và không cần
thiết phải xét xử. Đối với trường hợp sau khi xét hỏi Viện kiểm sát rút toàn bộ
truy tố thì đương nhiên phiên toà không có luận tội của Viện kiểm sát và hệ quả
logic là sẽ không có tranh luận giữa viện kiểm[4] sát và bị cáo, người bào
chữa, ngưòi bị hại…mà toà án vẫn ra bản án thì bản án đó có thể coi là trái
pháp luật. Chính vì vậy, quy định tại điều 195 BLTTHS nếu viện kiểm sát rút
toàn bộ truy tố tại phiên toà thì toà án vẫn xét xử, nếu bị cáo không có tội
thì tuyên bố bị cáo vô tội cần xem xét về tính hợp lý của nó. Mặt khác, nếu
viện kiểm sát rút truy tố mà toà án vẫn xét xử và kết tội, toà án sẽ làm thay
chức năng buộc tội của Viện kiểm sát dẫn đến tình trạng toà vừa buộc tội, vừa
xét xử và tạo ra một hệ thống 3 cơ quan buộc tội (Điều tra, Kiểm sát, Toà án)
ảnh hưởng đến tính khách quan, độc lập xét xử của toà án, xâm phạm đến quyền
lợi của người bị buộc tội.
Trên
đây là nhận thức của chúng tôi xung quanh vấn đề rút truy tố, rút một phần truy
tố và cách giải quyết vụ án hình sự khi Viện kiểm sat rút quyết định truy tố
trước và tại phiên toà sơ thẩm dựa trên các quy định của Bộ luật TTHS hiện
hành. /.